SỢI KHÓI CHIỀU HÔM ĐI TÌM TÁC GIẢ

By duong duc

 

Thật dễ dàng và nhanh chóng nhờ internet mà một tác phẩm có thể xuất hiện hầu như mọi nơi mọi lúc không biên giới. Nhưng củng nhờ internet mà tác phẩm và tác giả có lúc rơi vào những lung túng bất ngờ. Ví như bài thơ chứ không phải ca dao mà vẫn không có tác giả hoặc một bài thơ nhưng có nhiều tác giả (không phải bút danh khác nhau của một tác giả) không phải văn học dân gian hoặc không xưa gì lắm nhựng bài thơ có nhiều dị bản…

Ngoxua xin đơn cử một bài thơ rơi vào trường hợp đó : bài thơ SỢI KHÓI CHIỀU HÔM 

 

Lần theo dấu net xin sắp xếp sự xuất hiện của bài thơ theo thời gian như sau

  1. trên baophuyenonline
  2. trên tập thơ văn Áo Trắng
  3. trên tuoitreonline
  4. trên blog yahoo
  5. trên multiply

……………..

Và các báo tuyển thơ có bài SKCH để đối chiếu (để lại sau).

Sáng tác > Thơ
25 Tháng Mười Hai 2007 7:29 SA (GMT+0700)
  
Sợi khói chiều hôm - Thơ TRẦN THÁI

 alt


Bóng quê

 

Mẹ vẫn biết chiều nay con ở rất xa

Sao còn nấu phần cơm con trong đó

Chiều hẹp rồi vạt nắng vàng chợt tắt

Lửa bập bùng nơi mẹ sáng thâu đêm

Mẹ vẫn biết chiều nay con không về

Sao nấu cho con phần cơm gạo mới

Một nắng hai sương mẹ chờ mẹ đợi

Trắng thơm mềm sợi khói chiều hôm

  

SV Ngữ văn khóa 3 Đại học Văn Hiến TP HCM

trên tập thơ văn Áo Trắng  số 28 (ra ngày 15-07-2008

alt

Rồi đưa lên tuoitreonline sau đó:

Thứ Bảy 02/08/2008  04:10 (GMT+7)
 

Sợi khói chiều hôm

AT - Mẹ vẫn biết chiều nay con ở rất xa
Sao còn nấu phần cơm con trong đó
Chiều hẹp rồi vạt nắng vàng chợt tắt
Lửa bập bùng nơi mẹ sáng thâu đêm.

Mẹ vẫn biết chiều nay con không về
Sao nấu cho con phần cơm gạo mới
Một nắng hai sương mẹ chờ mẹ đợi
Trắng thơm mềm sợi khói chiều hôm.

TRẦN THÁI
(Ngữ văn khóa 03)

trên blog yahoo của Phan Viet :

http://vn.360plus.yahoo.com/phan-viet/article?mid=15&fid=-1

Welcome to PhanViet s blog 
Đăng ngày: 08:59 08-08-2008
Thư mục: Chung
Sợi khói chiều hôm

Mẹ vẫn biết chiều nay con ở rất xa
Sao còn nấu phần cơm con trong đó
Chiều hẹp rồi vạt nắng vàng chợt tắt
Lửa bập bùng nơi mẹ sáng thâu đêm.

Mẹ vẫn biết chiều nay con không về
Sao nấu cho con phần cơm gạo mới
Một nắng hai sương mẹ chờ mẹ đợi
Trắng thơm mềm sợi khói chiều hôm.

TRẦN THÁI

trên trên multiply blog cua HaiLong 

http://thichtamphuc.multiply.com/journal/item/10/10

Blog Entry Sợi khói chiều hôm May 24 08 3:23 AM
for everyone

Sợi khói chiều hôm

Mẹ vẫn biết chiều nay con ở rất xa

Sao còn nấu cơm có phần con trong đó

Chiều hẹp rồi vạt nắng vàng vụt tắt

Ngọn lửa hồng nơi mẹ sáng thâu đêm

***

*

 

Mẹ vẫn biết chiều nay con không về

Sao còn nấu có thêm phần cơm gạo mới

Một nắng hai suơng mẹ chờ mẹ đợi

Trắng thơm mềm sợi khói chiều hôm

SL

Tại các địa chỉ baophuyenonline AoTrang tuoitreonline blog PhanViet đều ghi tác giả là Trần Thái. Riêng tại blog HaiLong kí tắt là SL và một số câu thơ cũng có khác khác .

Vậy có chắc chắn Trần Thái là tác giả của bài thơ không?

Người viết blog này xin mời và rất mong Trần Thái HaiLong có lời xác nhận để bạn yêu thơ khỏi phân vân.

More...

Bình Thuận: nhà giáo ngược đãi mẹ

By duong duc

Từ xưa ông bà ta đã có câu “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Vậy mà thật lạ đời có một thầy giáo lại thường xuyên ngược đãi chửi bới hành hung cả mẹ già của mình và các chị ruột chị dâu. Thầy giáo này đã từng bị chính quyền khiển trách nhưng chứng nào vẫn tật ấy. 

Hành động thiếu đạo đức

Khi biết chúng tôi đến xã Tân Thuận tìm hiểu vấn đề này bà Nguyễn Thị Chơi (mẹ ruột của thầy giáo Vinh) đã lom khom cầm tập đơn tố cáo con trai đến nhờ nhà báo can thiệp. Tuy đã bước sang tuổi 80 nhưng bà Chơi vẫn còn nhanh nhẹn khỏe khoắn và minh mẫn. Vợ chồng bà sinh được 11 người con trong đó Nguyễn Thế Vinh là con trai út được học hành tử tế làm giáo viên tại Trường TH Tân Thuận 3 Hàm Thuận Nam. Các con của bà đã có vợ có chồng có nhà cao cửa rộng. Riêng Vinh sống chung với cha mẹ trong căn nhà tự từ nhỏ cho đến khi cưới vợ. Đến năm 2002 chồng của bà qua đời căn nhà tự ở sát bờ sông bị xuống cấp có nguy cơ sụp đổ nên chính quyền địa phương cho phép xây dựng căn nhà mới tại thửa đất ruộng. Bà cùng với các con bàn bạc thống nhất cho vợ chồng Vinh thửa đất 3.200 m2 để xây nhà ở nuôi dưỡng mẹ già thờ cúng tổ tiên ông bà. Sau mấy năm chung sống bà cùng với vợ chồng Vinh trồng được 350 trụ thanh long quanh vườn để tăng thêm thu nhập và lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà. Có lần vợ chồng Vinh thiếu vốn làm ăn bà cho phép lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến thế chấp ngân hàng để vay vốn. Khi trả hết nợ Vinh không hề nói với mẹ mà lại lén lút lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến thế chấp ngân hàng vay vốn nên bà tức giận la lối. Những ngày chung sống vợ chồng Vinh đối xử với bà hết sức bạc bẽo thiếu tôn trọng hễ ăn nhậu về là gây sự chửi bới hắt hủi mẹ. Từ tháng 8/2010 đến nay Vinh đã nhiều lần chửi bới hành hung mẹ chị ruột chị dâu. Cụ thể là lần thứ nhất Vinh chửi bới cầm cây định đánh mẹ tại nhà ông Nguyễn Văn Hân; lần thứ hai Vinh cầm cây chạy ra đánh mẹ dưới gốc dừa sau nhà; lần thứ ba Vinh dùng chổi chà đánh mẹ; lần thứ tư Vinh hù dọa mẹ phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...

alt
 

Bà Chơi (mẹ của thầy Vinh) đã làm đơn tốt cáo hành vi ngược đãi mẹ đối với thầy Vinh

Chị Nguyễn Thị Phượng (chị ruột của Vinh) cho chúng tôi biết: Không thể sống chung với vợ chồng con trai út bà Chơi đã làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đòi lấy lại một phần thửa đất đã cho Vinh trước đây để các con góp tiền xây căn nhà tự một mình bà sống cho tự do. Trong lúc chờ tòa án thụ lý vụ án Vinh tiếp tục tỏ thái độ thù ghét chửi bới đe dọa hành hung mẹ và các anh chị. Nhất là sau khi nhận quyết định kỷ luật của UBND huyện Hàm Thuận Nam Vinh càng thù ghét mẹ các anh chị nên vào ngày 13/3/2011 bà Chơi sang nhà con gái ăn cơm tối thì Vinh đến gây sự chửi bới chị gái. Bà Chơi đành la lên “Thằng bất hiếu hết chửi mẹ đến chửi chị”. Vinh liền quay sang chửi bới mẹ và cầm cây nhá lên đầu mẹ. Tức giận bà Chơi thách đố “Mày có giỏi thì giết tao đi”. Vậy là Vinh xông vào xô đẩy mẹ ngã xuống sân chị Phượng liền chạy đến can ngăn kéo ra thì bị Vinh quay lại nắm tóc chị Phượng đánh vào người gây thương tích phải vào Bệnh viện thị xã La Gi điều trị. 

Khiển trách về đạo đức

alt

Nguyễn Thế Vinh đang đứng chửi bới mẹ và chị ruột

Khi hỏi về việc xử lý những sai phạm của thầy giáo Nguyễn Thế Vinh bà Phan Thị Liên Phó Hiệu trưởng Trường TH Tân Thuận 3 đắn đo giây lát rồi nói: Về chuyên môn và công tác giảng dạy tôi nhận thấy thầy Vinh thực hiện nghiêm túc còn sự việc xảy ra như đã nêu ở trên tôi thấy thầy Vinh cũng có sai cần phải nghiêm túc sửa sai. Khi có đơn tố cáo của chị Nguyễn Thị Loan Hội đồng Trường TH Tân Thuận 3 đã tổ chức họp kiểm điểm thầy Vinh và đi đến kết luận: Ông Vinh là một viên chức đang công tác trong ngành giáo dục nhưng đã vi phạm tư cách đạo đức nhà giáo dùng những lời lẽ mà đáng ra người trong ngành không nên sử dụng và thiếu bình tỉnh để xảy ra sự việc trên. Đề nghị ông Vinh phải nghiêm khắc nhận lỗi và sửa sai. Trong thời gian đến ông Vinh cần giải quyết ổn thỏa việc gia đình để không xảy ra những sự việc đáng trách. Xét biên bản phiên họp kiểm điểm của Hội đồng Trường TH Tân Thuận 3 đối với ông Vinh và theo đề nghị của Phòng Giáo dục - Đào tạo Phòng Nội vụ huyện UBND huyện Hàm Thuận Nam đã ra Quyết định số 171//QĐ-UBND ngày 24/2/2011 thi hành hình thức kỷ luật “khiển trách” đối với ông Nguyễn Thế Vinh là giáo viên Trường TH Tân Thuận 3 vì lý do ông Vinh đã vi phạm tư cách đạo đức nhà giáo gây bất hòa trong gia đình và khu dân cư. Thời gian chấp hành kỷ luật là 12 tháng kể từ ngày 24/2/2011. Mọi người cứ tưởng sau khi bị kỷ luật thầy Vinh sẽ cố gắng sửa chữa những sai phạm của mình. Nào ngờ thầy Vinh càng thêm thù ghét chửi bới hành hung mẹ chị ruột trong ngày 13/3/2011 (như đơn tố cáo của mẹ của chị Phượng). Trước áp lực của dư luận ngày 4/4/2011 Ban giám hiệu Ban chấp hành Công đoàn Trường TH Tân Thuận 3 cùng với các nguyên đơn bị đơn người làm chứng đã tổ chức cuộc họp giải quyết đơn tố cáo thầy giáo Nguyễn Thế Vinh với kết luận: Công đoàn nhà trường ghi nhận toàn bộ các ý kiến để tiếp tục giáo dục thầy Vinh còn sự việc xảy ra ngoài tầm giải quyết nhà trường sẽ làm báo cáo gửi lên cấp trên xem xét xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Cần xử lý nghiêm

Đến nhà chị Phượng chúng tôi gặp một số hộ dân sống gần đó hỏi thăm mọi người đều nói: Vinh con trai út trong nhà lại ngược đãi với mẹ. Sau khi bị kỷ luật Vinh vẫn tiếp tục chửi bới hành hung mẹ đánh chị ruột gây phản cảm với nhiều người trong xóm.

Với những hành vi sai phạm có “hệ thống” của Nguyễn Thế Vinh đã làm lu mờ hình ảnh trong sáng đẹp đẽ của người thầy giáo trong lòng học sinh và đi ngược lại đạo lý hiếu nghĩa của dân tộc ta. Hành vi đó cần được làm rõ và xử lý nghiêm minh.

Phóng sự điều tra: Tuấn Anh

 

More...

Góp thêm một cách hiểu về thơ nhìn từ thông diễn học hiện đại

By duong duc


 

 “Để hiểu được câu thơ chúng ta cần nắm vững được thế giới sống của câu thơ đó và để biết được cái thế giới sống đó ta chỉ có thể dựa vào những cơ cấu kiến cấu… mà ta thấy trong ngữ học trong cách thế suy tư (logic) trong các bộ môn khoa học”.

 alt

Thông diễn học là khoa học nghiên cứu về hoạt động hiểu và diễn đạt (bao gồm diễn giải và tái diễn giải) đúng đắn những gì đã hiểu (H. G. Gadamer - Chân lí và phương pháp). Đây là cách hiểu đi đúng theo tinh thần của thông diễn học hiện đại. Điểm phân biệt giữa thông diễn học hiện đại với thông diễn học truyền thống ở chỗ các nhà thông diễn học truyền thống cho rằng thông diễn học như là biểu hiện và khôi phục lại ý nghĩa trong khi đó các nhà thông diễn học hiện đại khẳng định thông diễn học hiện đại quan tâm đến sự hiểu và diễn giải lại đối với sự hiểu nhằm phá vỡ hoặc giảm bớt ảo tưởng. Do vậy các nhà thông diễn học hiện đại gắn liền với tâm thế hoài nghi trước văn bản trong đó niềm tin của nhà thông diễn học hiện đại không thuần túy ở việc tìm lại nghĩa sau khi đã đi sâu tìm hiểu các kiểu bối cảnh trong và ngoài văn bản cao hơn các triết gia này quan niệm niềm tin mà họ hướng tới văn bản là một niềm tin có lí tính bởi vì niềm tin ấy đã trải qua quá trình phê phán. Nó để lại dấu vết mối bận tâm về đối tượng với những trăn trở suy nghiệm nó thôi thúc con người cần phải có thái độ giải thiêng nghiêm túc. Tâm thế của nhà thông diễn học hiện đại đi vào văn bản không phải để hiểu miêu tả và tái lặp nó trái lại quá trình ấy phải được thực hiện và tiến hành bởi liên tiếp những hình thức tái diễn giải lại đối tượng và viết lại chính là phương pháp mà các nhà thông diễn học hiện đại sử dụng để giải cấu trúc đối tượng thông diễn. Bởi vì hiểu và lặp lại sự hiểu trong quá trình diễn giải thực chất là một sự hồi tưởng và như vậy nó đã hoàn tất cho nên tái lặp là một hoạt động hướng về phía sau (nghĩa là tin và đi theo một cách thụ động thiếu tính giải thiêng về đối tượng). Thông diễn học truyền thống đi theo tinh thần này với đại diện tiêu biểu: J.C.Dannhauer Schleiermacher xem thông diễn như là một Hệ Thống Phương Pháp Giải Thích các Văn Kiện Thánh Kinh; Descartes Hégel xem Thông diễn như là một sự hiểu thấu suốt và thông suốt tất cả quy luật của lịch sử tức nắm được cái tinh thần của lịch sử (Geist der Geschichte) nằm sâu trong và ở đằng sau các hiện tượng; nhóm đi theo quan điểm của Dilthey thì xem thông diễn học như là một nền tảng lịch sử và mang nhân tính để xây dựng một phương pháp luận đặt nền móng cho nền khoa học tinh thần…Trong khi đó hiểu và tái diễn sự hiểu trong quá trình diễn giải cần được quan niệm như là một hồi tưởng hướng về phía trước. Đó là một quá trình mà nhà thông diễn hiện đại không ngừng đặt ra những nghi vấn về vấn đề mà văn bản và tác giả quá khứ (hoặc cùng thời) đặt ra để từ đó thâm nhập vào bối cảnh văn hóa (gồm bối cảnh bên trong + bên ngoài văn bản) do văn bản vẫy gọi trên cơ sở đó hiểu những vấn đề mà bối cảnh ấy đặt ra: vấn đề nhân sinh xã hội đạo đức thiết chế…thông qua sự trao đổi nghĩa các lớp kí hiệu. Về điều này P.Ricoeur có lí khi nhận xét “Khuynh hướng tuân thủ vận động của nghĩa vận động này xuất phát từ ý nghĩa cụ thể sát thực […] hướng tới nắm bắt cái gì đó nằm trong vùng linh thiêng”(1) tức là hướng tới ý nghĩa biểu tượng. Với quan niệm trên Ricoeur cho rằng hoạt động thông diễn hướng niềm tin vào ngôn ngữ một thứ ngôn ngữ nói với mọi người nhiều hơn là được nói bởi mọi người. Trên cơ sở của cách nghĩ ấy ông xem Marx Nietzsche và Freud như là ba bậc thầy hoài nghi vĩ đại học thuyết của họ là kết quả của một quá trình phá hủy những cấu trúc cũ để tái lập một cấu trúc mới và mỗi người theo cách riêng của mình đã sáng tạo ra một cách diễn giải phù hợp. “Bằng việc xây dựng khoa học trực tiếp về nghĩa họ chỉ ra mối quan hệ che giấu – biểu lộ như là phạm trù căn bản của ý thức và kết hợp phương pháp giải mã “ý thức” với công việc giải mã “vô thức” mà họ gán cho ý chí quyền lực cho bản thể mang tính xã hội cho bộ máy tâm lý vô thức”(2). Trong khi thông diễn học truyền thống lấy sự tái hợp ý nghĩa làm nền tảng thì thông diễn học hiện đại lấy diễn giải như là “sự thực hành hoài nghi và trở thành thông diễn giải [cấu trúc] hoặc thực hành ảo tưởng”. Điều này trong các văn bản thời kỳ Hậu hiện đại đặc biệt phổ biến các nhà diễn giải hậu hiện đại coi việc phá vỡ giới hạn của những cấu trúc cũ như là một phương thức để kiến tạo một trật tự cấu trúc mới mà những triết gia tiên phong cho khuynh hướng này là những nhà hậu cấu trúc và giải kiến tạo như: U.Eco H.Jauss R.Barthes M.Foucault G.Deleuze I.Hassan…đặc biệt là J.Dérrida. Họ cho rằng “cần phải phá vỡ tất cả những gì có thể phá” và văn bản chính là trung tâm của mọi hoạt động phá vỡ và kiến tạo bởi “không có gì ngoài văn bản” (J. Dérrida) do đó phá vỡ cấu trúc của một văn bản là phá vỡ một hệ thống thông tin đã lạc hậu và một thông tin mới được xác lập khi ngôn ngữ thay đổi. Viết chính là hình thức để thay đổi ngôn ngữ. Sự triển hạn vô tận của những kiểu ngôn ngữ khác nhau sẽ quy định sự luân phiên của những kiểu văn bản khác nhau. Theo nghĩa ấy tiến trình lịch sử và xã hội cũng chạy dài theo cuộc phiêu lưu trao đổi từ những kí hiệu biểu trưng của ngôn ngữ và đó chính là động lực để tiến hóa xã hội loài người. Xem xét thơ trong mối quan hệ với thông diễn học hiện đại bài viết cũng không đi ra ngoài những vấn đề đã nêu ở trên.


Bàn về thơ quy kết cho thơ một cách hiểu duy nhất là một việc làm mạo hiểm. Những cách diễn giải về thơ ở một góc độ nào đó đứng về mặt khoa học thực chất chỉ là góp thêm một cách hiểu chủ quan về thơ còn xem nó như một hệ chuẩn là một việc làm dường như là vô ích bởi vì khi chúng ta hướng đến thơ và cố khuôn thơ vào một lối viết nào đó đều là biểu hiện của những cách nghĩ khác nhau về một đối tượng: Sự áp đặt của kinh nghiệm của ý đồ về thơ. Các nhà phê bình thường suy xét hoạt động phê bình thơ như là một hướng đi của tư duy về thơ. Theo nghĩa ấy mỗi nhà phê bình thơ đã tự khai tử cách nghĩ của mình về việc cố tạo ra một định nghĩa cho thơ hoặc là nhà phê bình tự mâu thuẫn giữa ý chủ quan và việc làm khách quan hoặc cố tạo ra một mặt nạ cho một dạng thức học thuật. Theo nghĩa ấy việc tạo ra một định nghĩa về thơ thực chất là sự nài ép độc giả vào khả năng vây hãm của một định chế ngôn từ trong khi đó bản chất của thơ là tự nhiên mọi việc làm có hướng thu hẹp khoảng tự nhiên ấy đều có nguy cơ đẩy thơ tới bờ phá sản. Claude Lévi Strauss có lý khi nhận ra một sự thực “Nỗi bất lực này lại càng thêm khó chịu khi tôi giữ vai trò là người giám sát: bởi vì…thí sinh yếu kém nhất dường như đã nói đầy đủ tất cả [mọi sự thực về tri thức] cứ như là các đề tài [được lựa chọn như những sự việc đã được dựng sẵn đáp án] tan biến đi trước mắt tôi chỉ do cái điều duy nhất là tôi đã từng một lần gán suy nghĩ của tôi cho họ”(3). Theo nghĩa ấy cố phác họa một cách đọc về thơ là một việc làm mạo hiểm và có chủ ý. Do vậy chúng tôi không cho rằng hoạt động viết này như một quá trình tìm ra phương pháp diễn giải về thơ mà thực chất là cố gắng vạch ra những dấu hiệu cho phép nhận biết và ở một góc độ có thể giúp cảm được tốt hơn về một bài thơ dựa trên những ý kiến của các nhà lý luận - phê bình bàn về thơ đã từng làm.


Lối viết thơ không trộn lẫn theo lối viết văn xuôi và kịch. Do vậy bản chất về thơ trong việc khơi gợi một sự hiểu và sự “dấn thân” ở độc giả so với hai thể loại trên là không giống nhau. J.Sartre có lý khi ông nhận ra “người ta trách tôi ghét thơ: chứng cớ là tạp chí Thời hiện đại in rất ít thơ; ngược lại đấy là bằng chứng tôi yêu thơ”(4). Quan niệm này của Sartre không phải là một lời bào chữa đối với độc giả về sức sáng tạo của mình sâu hơn cách quan niệm dường như có chút vô lý trên của ông lại chứng minh rằng ông là người hiểu thậm chí hiểu rất tường tận về thơ. Bởi vì ông đã nhận ra một thực tế rằng thơ không phải là một công cụ là nô lệ của ngôn ngữ trái lại nó không có chút lệ thuộc nào về ngôn ngữ nó kêu gọi khả năng “thánh hóa” của thi sĩ với những hoạt động tạo tác ngẫu nhiên bất thường khi sáng tạo và đó là thơ và người làm được việc đó là một nhà thơ đích thực. Ông biện giải vấn đề này như sau “văn xuôi không sử dụng các từ theo cùng một cách như thơ và thậm chí nó không phục vụ các từ. Thi sĩ là những con người từ chối dùng ngôn ngữ”(5) nếu chúng ta hiểu ngôn ngữ như thể là tư duy và vượt trên cả tư duy thì quan niệm trên của Sartre về thơ là có lý. Bởi vì thơ không phải là tấm gương phản ánh bản chất của đối tượng mà tự nó là một bản chất và từ nó độc giả có thể tìm ra cái bóng của tồn tại nằm trong đó và nhà thơ không phải tấm gương phản ánh xã hội ngược lại xã hội bị phản ánh khi anh ta khám phá chính con người mình với bản thể tinh thần và vô thức của mình đây là thái độ nhiệt tình về bản thể luận của Hégel và cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa thơ và các thể loại khác giữa thi sĩ và những cá nhân phi thi sĩ. Có lẽ một cách hiểu hợp lý hơn về thơ nếu ta trở về với R.Jakovson khi ông bàn về cách quan niệm giống như Sartre và gọi tên nó là chức năng thi pháp (function poétique). Đọc thơ không phải là tìm ra cái nghĩa của nó người đọc thơ không phải là người lục lọi xem nhà thơ đã nói gì cái chính là nhà thơ đã nói như thế nào? Theo nghĩa ấy hoạt động đọc thơ của độc giả thực chất là tìm xem trong bài thơ ấy về đặc trưng về cái hay trong lối tạo lời cái hay về hơi nói về giọng điệu của thi nhân. Do vậy điểm khác nhau cơ bản có tính bản chất giữa thơ và văn xuôi thể hiện ở chỗ thơ là một dạng ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng chỉ khi lấy mình làm đối tượng thì thơ mới vượt thoát khỏi thực tại và tìm đến một thế giới khác chỉ khi thơ là thơ thì khi ấy thơ mới làm giàu về từ ngữ và triển hạn về ý nghĩa bởi vì “thi sĩ là những kẻ cuối cùng còn sót lại biết rằng từ ngữ xưa kia cũng là những giá trị” (Claude Lévi Strauss - Cấu trúc thần thoại). Việc coi thơ như là ngôn ngữ lấy mình làm đối tượng R.Jacobson muốn đặt lại vấn đề tính tự do trong thơ ông nhấn mạnh “thơ chỉ là một ngôn đề nhắm vào biểu thức (un énocé víant l’expession) có thể nói và vận hành trong quy luật nội tại; chức năng truyền đạt đặc biệt của ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ truyền cảm bị giới hạn đến mức tối đa”(6) chính điểm này đã đưa đến quan niệm ngôn ngữ thơ như là bản chất của một kiểu siêu ngôn ngữ ở đó mọi tồn tại chỉ còn là một lớp của những mục đích mà nhà thơ hướng tới trong thơ. Do vậy hoạt động diễn giải với thơ là một việc làm nan giải mọi hoạt động giải thích và giải nghĩa không tác động nhiều tới việc giải mã quan trọng hơn người diễn giải cần nhận ra rằng diễn giải thơ không phải là để hiểu nó mà là để cảm và sống về nó nhiều hơn và điều ấy phụ thuộc vào nghệ thuật chuyển nghĩa (Ars interpretandi) của bạn đọc. Tất nhiên để đến được cách chuyển nghĩa phù hợp về thơ thì việc xác định những dấu hiệu (về nghĩa và thủ pháp) xuất hiện trong bài thơ mà qua đó bài thơ có thể dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của nó với những ý nghĩa mà nó đem lại là việc làm không thể bỏ qua từ phía độc giả. Nếu nói theo R.Jakobson hiểu ngôn ngữ không phải là nhìn thấy mỗi từ mỗi ngữ hay nghe âm thanh nhưng là hiểu được cái ý nghĩa của từ của âm và của dấu (ký) hiệu. Nhưng để hiểu dấu hiệu ta lại cần phải nhờ đến những dấu hiệu khác. Nói cách khác cái ý nghĩa của ngôn ngữ là do một hệ thống liên quan giữa các biểu thị (dấu hiệu ký hiệu) mà không cần câu nệ đến chính sự vật mà ngôn ngữ muốn biểu tả. Vậy nên theo Jakobson hiểu ngôn ngữ tức hiểu được sự tương quan giữa các dấu hiệu và nhất là nắm vững được cái quy luật của dấu hiệu. Nhưng nói như vậy vẫn chưa đủ bởi vì dấu hiệu (sign) trước hết là một ký hiệu (signified) và là một tín hiệu (signifiant) đương phát sinh ra những thông tin. Chính vì vậy mà luật của dấu hiệu không phải tự nhiên nhưng được cấu tạo trong một thế giới sống nào đó và chỉ mang ý nghĩa cho những người có một cuộc sống tương tự như thế đó là lí do giải thích tại sao cùng một hình ảnh thơ lại đem đến nhiều sự hiểu khác nhau chẳng vậy mà Truyện Kiều đã từng dậy lên một cuộc tranh luận kéo dài qua nhiều năm trên văn đàn đầu thế kỷ XX những tranh luận ấy chỉ là vì những dấu hiệu mà qua hơi thơ giọng thơ điêu luyện đem lại có hướng đối nghịch về những lẽ sống và về kinh nghiệm mỹ cảm khác nhau của mỗi lớp độc giả. Nhà thơ thực chất là những người tư duy ngược về thực tại ngôn ngữ thơ của họ là những lớp nghĩa được diễn giải nghịch với lẽ thường và biến thành tín hiệu (significant) chỉ cho những người tin hay chấp nhận chúng bởi vì chỉ đối với họ và trong một thế giới của những người cùng niềm tin mà một ký hiệu mới phát sinh ra ý nghĩa (tín hiệu). Cơ sở để thơ tồn tại là ở cái hơi thơ hay nói cách khác là tính thơ xuất hiện chính kết cấu ngược đã tạo nên nét độc đáo của thơ và tạo ra sự đồng điệu với những tò mò của độc giả đó là cách làm cho thơ “lạ hóa” là cách để thơ tồn tại. Một bài thơ chỉ tồn tại nếu như mang một kiểu hình thức có sức làm thay đổi cả diện mạo thơ trong một giai đoạn nghĩa là nó tạo ra được một hệ hình thi pháp đặc trưng và như vậy theo nghĩa ấy những hình thức nếu cách tân mà xa rời với cảm quan (kinh nghiệm mỹ cảm) của độc giả sẽ báo hiệu khả năng tự thải hồi của nó. Bởi vì sự biến đổi không ngừng giữa ký hiệu (cái biểu đạt) và tín hiệu (cái được biểu đạt) là một tính chất đặc thù của ngôn ngữ con người. Do đó luật của ngôn ngữ không phải là những quy luật giữa các dấu hiệu đã có sẵn hay đã được quy ước luật của ngôn ngữ phản ánh cái quy luật của cuộc sống con người của mối giao tiếp giữa con người với nhau giữa con người với vạn vật vân vân… Thế nên dấu hiệu có thể cùng một lúc là ký hiệu và tín hiệu cùng một lúc là một biểu hiệu (hay biểu tượng hay ấn hiệu) và là dấu hiệu. Bởi lẽ cho tới cùng mỗi ngôn mỗi ngữ mỗi từ mỗi tự hay mỗi dấu hiệu đều chỉ ra một hành động một thái độ một tâm tình hay một cách sống nào đó. Nói tóm lại để hiểu được câu thơ chúng ta cần nắm vững được thế giới sống của câu thơ đó và để biết được cái thế giới sống đó ta chỉ có thể dựa vào những cơ cấu kiến cấu… mà ta thấy trong ngữ học trong cách thế suy tư (logic) trong các bộ môn khoa học.

NGÔ HƯƠNG GIANG


NVTPHCM online

 

More...

Nguy cơ rình rập nhà máy điện hạt nhân châu Á

By duong duc

Các chuyên gia cảnh báo nhiều nhà máy điện hạt nhân tại châu Á sẽ đối mặt với thảm họa động đất/sóng thần giống như ở Nhật Bản.

 alt

Dọc theo bờ biển đông nam của Trung Quốc có 4 nhà máy điện hạt nhân đã đi vào hoạt động hoặc đang được xây dựng. AP dẫn lời các chuyên gia cho hay các nhà máy này nằm trong vòng bán kính khoảng vài trăm km tính từ đới hút chìm Manila là nơi luôn diễn ra quá trình một mảng kiến tạo chùi xuống bên dưới một mảng khác.

Nhà máy điện Fukushima số 1 tại Nhật Bản cũng nằm cách một đới hút chìm khác vài trăm km và đã phải hứng chịu trận động đất 9 độ Richter kéo theo sóng thần. Đáng lo ngại hơn vì đới hút chìm Manila vẫn chưa tạo ra trận động đất đáng kể nào trong ít nhất 440 năm qua nên một số chuyên gia khẳng định những áp lực khủng khiếp đang hình thành tại đây.

Nếu xảy ra động đất mạnh trong khu vực 4 nhà máy điện hạt nhân tại miền nam Trung Quốc và một nhà máy khác tại mũi cực nam của Đài Loan có thể nằm trên đường tấn công của sóng thần. “Chúng ta phải thừa nhận rằng viễn cảnh những nhà máy này bị sóng thần tấn công nếu không xảy ra trong 10 năm tới thì cũng là trong 50 hoặc 100 năm” AP dẫn lời David Yuen giáo sư của Đại học Minnesota (Mỹ) cho hay.

Thảm họa được báo trước

AP dẫn lời giới chuyên gia nhận định Trung Quốc Đài Loan Ấn Độ và một vài nước vùng lãnh thổ nữa đang vội vã xây dựng nhà máy điện hạt nhân dọc theo bờ biển mà chẳng chú ý kiểm tra xem các khu vực đó có an toàn hay không. Ít nhất 32 nhà máy đã hoạt động hoặc đang được xây dựng tại châu Á đối mặt với nguy cơ sóng thần.

Để đánh giá nguy cơ sóng thần đối với các nhà máy điện hạt nhân các nhà khoa học tập trung vào khoảng cách giữa chúng và các đới hút chìm núi lửa cùng khu vực thường xuyên bị tình trạng đất chùi. Ngoài ra giới chuyên gia cũng kiểm tra tư liệu về các trận sóng thần lớn tại khu vực đó. Đối với trường hợp Nhật Bản Công ty điện lực Tokyo (TEPCO) khi xây dựng nhà máy điện hạt nhân đã không cân nhắc đến lịch sử từng có sóng thần khổng lồ xảy ra tại khu vực này vào năm 869 cũng như 2 lần địa chấn mạnh trước đó.

Trở lại với trường hợp của đới hút chìm Manila phần mềm mô phỏng trên máy tính do giáo sư David Yuen và các sinh viên ĐH Minnesota dựng lên cho thấy một trận động đất mạnh 9 độ Richter sẽ lập tức tạo nên bức tường sóng dọc theo biển Đông trước khi đập vào bờ nam đảo Đài Loan 15 phút sau đó. Kế đến sóng thần sẽ tấn công bờ biển phía đông nam của Trung Quốc. Trong trường hợp xấu nhất con sóng cao từ 5 - 8m sẽ đập vào các nhà máy tại Trung Quốc và Đài Loan.

AP dẫn một số tư liệu lịch sử cho thấy một cơn sóng thần cao 10m hình thành từ biển Đông vào năm 1782 đã giết chết khoảng 40.000 người ở Đài Loan. Tài liệu cũng ghi rõ một đợt sóng thần cao tương tự diễn ra vào năm 1765 đã quét khoảng 10.000 người xuống biển tại các tỉnh của Trung Quốc vốn đang có nhà máy điện hạt nhân như Quảng Đông Phúc Kiến Chiết Giang...

Chưa hết ảnh hưởng của sóng thần không co cụm mà có thể lan rất xa giống như trong vụ động đất tại Indonesia vào tháng 12.2004 các đợt sóng cao đã tấn công nhà máy điện hạt nhân ở Kalpakkam miền nam Ấn Độ - vốn cách tâm chấn đến gần 1.600 km. Mấy ngày qua người dân tại cảng Jaitapur của Ấn Độ cách Mumbai 400 km liên tục xuống đường tuần hành phản đối kế hoạch xây dựng một nhà máy điện hạt nhân gồm 6 lò phản ứng. Các cuộc đụng độ giữa cảnh sát và người biểu tình đã khiến ít nhất 1 người thiệt mạng hôm 18.4 theo BBC.

 

 

 

 

More...

Làm thương hiệu với văn chương

By duong duc

                    Khoảng 90 nhà thơ từ Quảng Nam đến Bình Thuận đã về dự lễ ra mắt tập Thơ tình duyên hải miền Trung tổ chức tại Tuy Hòa (Phú Yên) ngày 16-4.

Cuốn sách thuộc Tủ sách Sơn Ca do Nhà xuất bản Trẻ và Công ty Sonca Media liên kết xuất bản gồm 126 bài thơ tình. Toàn bộ chi phí từ in ấn nhuận bút đến tổ chức cuộc gặp giữa các nhà thơ đều do Công ty Sơn Ca đài thọ.

 

alt
 

 

Bìa tập thơ Thơ tình duyên hải miền Trung

Việc một doanh nghiệp bỏ tiền để làm sách vốn lợi lộc rất ít là điều hiếm thấy. Ông Nguyễn Minh Nhựt - giám đốc Nhà xuất bản Trẻ - thẳng thắn nhìn nhận: "Nếu không có Sơn Ca Nhà xuất bản Trẻ không dám in thơ. Ðơn giản là thơ không bán được".

Người quyết định gắn doanh nghiệp với văn chương là ông Lê Văn Chính - chủ tịch hội đồng quản trị công ty. Ngoài việc bỏ 200 triệu đồng mua bản quyền bài thơ  Màu tím hoa sim của Hữu Loan (năm 2004) và 10 nốt nhạc mở đầu bản Tình ca của Phạm Duy (2005) ông Chính đã lập Tủ sách Sơn Ca và sau gần ba năm đã in được tám đầu sách. Ngoài ba tập truyện ngắn (Truyện ngắn Sài Sòn - 2 tập Truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long Truyện ngắn miền Trung)  tập thơ tình vừa ra mắt lần này là tuyển tập thơ thứ năm cho các khu vực sau bốn tập Thơ tình Sài Gòn Thơ tình Hà Nội Thơ tình xứ Huế Thơ tình cao nguyên. Sắp tới Sonca Media tiếp tục làm Thơ tình sông Cửu Long.

Chi phí làm một cuốn sách kể cả tổ chức lễ ra mắt ngót nghét 100 triệu đồng nhưng sách làm ra chỉ mang lại niềm vui cho những người làm thơ. Họ được gặp nhau trong một cuộc chơi thi ca được đón tiếp trọng thị được nhận nhuận bút và được đọc thơ cho nhau nghe.

Trong lời mở đầu chương trình nhà văn Nguyễn Ðông Thức đã gọi ông Chính là người yêu văn chương một cách lạ kỳ. Còn ông Chính nói rằng ông làm việc này chỉ cho... "đời thêm vui". Ðứng ở góc độ kinh doanh ông Nguyễn Dương Thanh Hoàng - giám đốc công ty - cũng nói "làm cho vui" nhưng ông thừa nhận khi tham gia hoạt động này công ty của ông như "trí thức" hơn. Cái được rất nhỏ của những nhà tổ chức có lẽ là qua cuộc hội ngộ đã có ít nhất 126 nhà thơ và gia đình của họ biết đến Sonca Media và những sản phẩm điện tử của công ty này. Vậy thôi!

Thôi thì gọi là gì cũng được nhưng cách làm thương hiệu bằng thơ cũng đã giúp thơ ca nhất là những người làm thơ trẻ có được một sân chơi và một đêm thơ vui đến rạng sáng như đêm ra mắt tập  Thơ tình duyên hải miền Trung...

LÊ MINH ÐỨC

 

More...

Cao ốc bọc kính gây ngộ độc

By duong duc

 - TP.HCM đang phát sinh một tình trạng ngộ độc rất nguy hiểm đó là ngộ độc ánh sáng do các toà nhà bọc kính tạo ra. Với nhiều quốc gia trên thế giới ngộ độc ánh sáng được đưa vào danh mục quản lý nhà nước nhưng tại Việt Nam “căn bệnh” trên mới dừng ở mức khuyến cáo.

alt

Trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 60 công trình sử dụng kính phản quang che phủ phần mặt tiền hoặc bọc toàn bộ mặt ngoài của khối công trình. 

Những tổ hợp kính màu xanh hay trắng này trông khá đẹp mềm mại và có khả năng giảm tới 15% nhiệt lượng trong các toà nhà cao tầng.

Nhưng trớ trêu là nếu nó làm lợi cho người bên trong bao nhiêu thì làm hại cho người bên ngoài bấy nhiêu. 

Vào những ngày nắng nó trở thành một tấm gương khổng lồ hắt nắng và sáng chói chang vào khu nhà đối diện và đường đi.

Cán bộ sinh viên của trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn đang khổ sở với ánh sáng gắt của toà nhà trung tâm thương mại trên góc đường Tôn Đức Thắng – Lê Duẩn chiếu hắt thẳng vào khuôn viên nhà trường từ lúc 3 – 5 giờ chiều. 

Vào thời điểm đó xe cộ kể cả xe máy và xe hơi chạy qua đoạn đường này đều bị chói mắt vì ánh sáng xanh trên nền đường hắt ánh sáng ngược lên còn nhìn thẳng vào toà cao ốc là điều không thể vì nó trở thành một khối sáng trắng loá gây nhức mắt.

Điều này đặc biệt trở nên nguy hại cho xã hội khi những toà nhà có bốn mặt đều bọc kính phản quang. Nhiều gia đình phải cửa đóng then cài vào buổi sáng hay chiều khi ánh nắng phản chiếu từ các khối nhà bọc kính phản quang đối diện rọi vào.

GS.KTS Trương đến từ Singapore cho hay vào những năm 1985 – 1995 ở Singapore lúc đó cũng có một số toà nhà sử dụng kính phản quang nhưng chính quyền sớm nhận thấy tác hại của loại vật liệu này cho nên cấm sử dụng.

Cách nay năm năm hội đồng Quy hoạch kiến trúc TP.HCM cũng luôn nhắc nhở các công trình cao tầng về điểm này nhưng xem ra không hiệu quả vì nó chỉ là khuyến cáo chứ không phải là cấm cho nên các chủ đầu tư vẫn chọn loại kính này. 

Có lẽ công nghệ và máy móc sản xuất loại vật liệu này kể cả thành phẩm không còn được sử dụng ở các nước tiên tiến nữa cho nên nó được nhập vào Việt Nam vì giá rẻ nên dễ dàng được chấp nhận chăng?

Hiện nay ở thành phố cao ốc bọc kính phủ một lớp chống phản quang đã xuất hiện nhưng rất hiếm hoi như toà cao ốc hoa sen của Bitexco có phủ bên ngoài một lớp gốm chống nóng và triệt tiêu hiện tượng phản sáng. 

Chúng ta thử hình dung xem điều gì sẽ xảy ra nếu một lúc nào đó không chỉ hàng chục mà hàng trăm cao ốc bọc kính phản quang mọc lên như nấm ở thành phố này?

Các nhà nghiên cứu thường nói các nước đi sau có một lợi thế trời cho là tiếp thu được kinh nghiệm thành công và thất bại của người đi trước khi áp dụng vào nước mình nhưng xem ra ở Việt Nam điều này chưa thấy được bao nhiêu!

Bài và ảnh: TS Nguyễn Minh Hoà

-----------------------------------------------

Bị thần kinh vì ánh sáng!

 

 

Câu chuyện ở Hong Kong. Số là có nhiều chung cư cao tầng đối diện với những bảng quảng cáo điện tử ở các cao ốc thương mại nhưng bảng quảng cáo này quá lớn chúng phát ra những luồng ánh sáng rất mạnh tới hàng ngàn lux trong khi ánh sáng bình thường cho mắt người khoảng 400 – 500 lux.

Những luồng sáng không chỉ mạnh mà lại luôn chớp tắt màu sắc xanh đỏ vàng thay đổi rất chói chang làm cho những người sống đối diện không thể chịu đựng nổi. Họ bị rơi vào tình trạng mất ngủ triền miên đau đầu trầm cảm nhất là những người già trẻ em phụ nữ có thai người yếu thần kinh và những người phải làm việc trí óc.

Khi mới mua nhà họ thường chọn những căn ở tầng cao những tưởng để có thể ngắm nhìn thành phố nhưng nay để tránh ánh sáng phải đóng cửa kéo rèm che kín mít giống như sống trong những cái hộp đen thui rất phản cảm.

Nhiều người phải bán nhà chuyển đi nơi khác nhưng giá bán lại không bằng khởi điểm vì bị mất giá trong thời buổi khủng hoảng kinh tế.

 

 

Hiện tượng ô nhiễm ánh sáng ngày nay đã trở nên rất phổ biến ở những thành phố dịch vụ như Macau Hong Kong Thâm Quyến Singapore… buộc chính quyền nhiều thành phố phải ra quy định hạn chế bớt các biển quảng cáo quá to quá sáng và giảm thời gian hoạt động.

 

More...

Nguy cơ mất mũi Cà Mau

By duong duc

Biển đang “gặm” dần mũi Cà Mau. Tình trạng đã đến mức báo động khiến có những lo ngại mũi đất tận cùng của cực nam Tổ quốc sẽ biến mất...Rừng phòng hộ ven biển đã bị xâm phạm. Thêm vào đó khi xây dựng khu du lịch người ta đã đưa cơ giới vào đào xới lấy cát từ các bãi bồi lắng. Điều này đã tác động xấu vào tiến trình diễn thế của tự nhiên gây sạt lở - Ông Lý Hoàng Tiến Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Đất Mũi
alt

Biển “phản công”

Ở tọa độ 8 độ 37 phút 30 vĩ bắc và 104 độ 43 phút kinh đông (thuộc xã Đất Mũi H.Ngọc Hiển Cà Mau) mũi Cà Mau là vị trí mà nhiều người VN khát khao ít nhất một lần được đặt chân tới. Lịch sử vùng đất này luôn tiếp nối câu chuyện đất sinh sôi lấn dần ra biển. Vùng đất trẻ còn được coi như một biểu tượng tinh thần của không chỉ cư dân Đất Mũi. Nhà thơ Xuân Diệu từng cảm hứng: “Mũi Cà Mau: vùng đất tươi non/ Mấy trăm đời lấn luôn ra biển/ Phù sa vạn dặm tới đây tuôn/ Lắng lại; và chân người bước đến” (Mũi Cà Mau).

Tuy nhiên một thực tế là trong những năm gần đây vùng đất này đang chịu cảnh xói lở khiến nhiều người đến đây phải chạnh lòng. Nhiều vị trí vài năm trước còn đó giờ đã mất bởi đà xâm thực vốn chưa từng diễn ra với vùng đất “Mũi tàu Tổ quốc” này. “Nếu lấy bản đồ trước đây so với bây giờ chúng ta sẽ thấy khu vực mũi Cà Mau đã có nhiều thay đổi” một cán bộ công tác tại Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau chỉ cho chúng tôi xem những biến dạng đến giật mình của mũi đất nổi tiếng này.


 


Được biết từ khi khu đất này trở thành khu du lịch (KDL) sinh thái (năm 2001) đến nay địa phương đã không ít lần cho làm bờ kè để giữ đất. Tuy nhiên nhiều công trình với các chất liệu khác nhau đều không tồn tại nổi trước đà xâm thực dữ dội của biển chỉ còn lại dấu tích là những cọc dừa cọc bê tông nằm khẳng khiu giữa biển. “Ăn” hết những bờ kè giữ đất biển “nuốt” luôn những công trình du lịch và hiện đang tiến gần đến công trình biểu tượng mũi Cà Mau.

Đưa chúng tôi ra khu đất tận cùng của chóp mũi anh hướng dẫn viên du lịch tên Dương Văn Thắng chỉ về các thanh cọc phía xa nói đó là công trình bờ kè chắn sóng đã bị sóng đánh hư. Cách bờ khoảng 10m về hướng đông là hàng cọc bê tông đang xây dở dang nhưng đã bị sóng “đánh phủ đầu” để tiếp tục lấy đi phần đất bên trong. Sát con lộ một dãy kè bằng cây tràm “dã chiến” vừa được đóng nhưng cũng thật mong manh và biển đã bắt đầu ăn tới con lộ. Từ con lộ này qua một khoảnh đất nữa là biểu tượng mũi Cà Mau...

Phía trong biểu tượng mũi Cà Mau về phía tây là cột mốc tọa độ quốc gia. Trước đây sau khi tham quan cột mốc đặc biệt này du khách sẽ được dẫn đến một con đường nhỏ len qua rừng đước để đi từ đông sang tây mũi Cà Mau. Phía ngoài còn có con đường xi măng uốn cong theo bờ biển dọc theo là những chòi gác để khách nghỉ chân và ngắm cảnh. Tuy nhiên đến thời điểm này con đường đã biến mất. Khách cũng không thể đặt chân lên các căn chòi gác vì số nằm trong thì bị sóng biển đánh tới chân số khác thì đã nằm... chơi vơi ngoài biển. Đưa khách qua mỏm đất nằm chếch về hướng tây mũi Cà Mau nơi những rẻo đất khẳng khiu tơi tả sau những cú đánh của sóng biển một nhân viên của KDL mũi Cà Mau cho biết trong Tuần lễ du lịch Đất Mũi diễn ra hồi tháng tư năm ngoái người ta đã cho làm một đoạn đường tạm để du khách và quan chức có thể đi từ đông sang tây. Tuy nhiên chẳng bao lâu sau biển cũng đã “hô biến” luôn đoạn đường này. Bây giờ chỉ có thể đứng ở rẻo đất chóp mũi để nhìn ra căn chòi gác bị sóng biển cách ly khỏi bờ. Chếch về phía tây mũi đất là một khóm cây mắm đã “chia tay” với bờ. Anh này nói trước đây những vị trí trên là một phần đất liền. Chỉ sau mấy năm nó đã “thuộc về biển cả”.

Không chỉ có mũi đất nằm trong KDL mũi Cà Mau cả dãy bờ biển chạy dọc về hướng đông cũng đang hứng chịu cảnh biến xâm thực. Ông Nguyễn Quốc Khải cán bộ quản lý KDL Lý Thanh Long cho biết khoảng 4 năm nay biển đã lấn vào đất liền tại KDL này trên dưới 300m. Trước đây vùng đất này hằng năm được biển mang phù sa về bồi lắng. Tuy nhiên chỉ khoảng 4 năm nay biển đã “đổi tính” lấy mất bãi cát vàng tiến đến ăn bứt bờ kè phía trong bãi cát khoảng 50m. Xong bờ kè sóng biển lại “thịt” luôn những cây dương được trồng phía trong rồi “gặm” luôn sân bóng đá. Đánh dạt các công trình du lịch đến hồ nuôi cá cảnh quan nằm sâu trong đất liền cũng chẳng yên. Chạy dọc theo KDL Lý Thanh Long con lộ xi măng rộng dẫn đến một nhà hàng thủy tạ cũng bị biển “nuốt” trôi. Nhà hàng hiện đã tách xa khỏi đất liền.

 

alt

Do thời tiết hay con người?

Ông Lý Hoàng Tiến Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Đất Mũi cho biết nhiều khu đất trong đó có những khu đất nằm trong quy hoạch dự án nhưng chưa kịp triển khai xây dựng cho đến nay đã không còn. Đơn cử như khu đất phía sau biểu tượng mũi Cà Mau Bộ Công an dự kiến xây dựng khu nhà nghỉ nhưng đã bị biển lấy mất. Ông Tiến tâm sự gắn bó với vùng đất này nhiều năm ông hiểu biển ở đây “có bồi có lở” đặc biệt là khu vực phía đông mũi Cà Mau. Nhưng mức độ xói lở không nghiêm trọng như bây giờ. Có nhiều bận ra khảo sát khu vực bờ cát thấy có các đụn cát được bồi lắng chưa kịp mừng mấy ngày sau trở ra thì đụn cát đã... mất tiêu.


 


Ông Tạ Huỳnh Vĩnh Trường Giám đốc Công viên văn hóa mũi Cà Mau nói ở đây nhiều năm ông đã chứng kiến có những thay đổi bất thường của thời tiết. Như 2 năm nay triều cường đã đột ngột tăng cao. Vào những ngày cao điểm nước biển đã dâng lên cao hơn những năm trước chừng 2 gang tay nhấn chìm nhiều dãy đất thuộc mũi Cà Mau. Căn nhà làm việc của BQL cũng bị nước biển dâng ngập. Tương tự anh Nguyễn Quốc Khải cho biết từ năm 2009 đến nay vào thời điểm tháng 10 âm lịch có lúc triều cường dâng cao đã cuốn trôi nhiều vật dụng tại KDL Lý Thanh Long. Anh Khải cho rằng chính sự thay đổi triều cường là nguyên nhân dẫn đến sạt lở.

Nhưng ông Tiến thì không cho như vậy. Theo ông bồi lở là chuyện của tự nhiên nhưng riêng tại khu vực mũi Cà Mau thì nguyên nhân chính là do sự tác động của con người. Người dân Cà Mau có cụm từ “cây mắm đi trước cây đước theo sau” để chỉ quá trình lấn ra biển của vùng đất bồi lắng. Cây mắm giữ vai trò tiên phong lấn ra biển. Rễ mắm bám chặt vào đất giữ phù sa bồi lắng tích tụ lâu ngày trở thành vùng đất mới. Khi cây mắm hoàn thành sứ mệnh thì đến lượt cây đước theo sau để “khẳng định chủ quyền” của đất liền. Một thời gian rừng phòng hộ ven biển đã bị xâm phạm. Thêm vào đó khi xây dựng KDL người ta đã đưa cơ giới vào đào xới lấy cát từ các bãi bồi lắng. Điều này đã tác động xấu vào tiến trình diễn thế của tự nhiên gây sạt lở. Tuy sau đó những người có trách nhiệm cho xây dựng bờ kè giữ đất nhưng do xây dựng không đúng kỹ thuật nên các bờ kè chỉ “làm mồi” cho sóng biển.

 

Kỹ sư Tô Quốc Nam Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Cà Mau cho biết tỉnh đang nhờ Viện Khoa học thủy lợi khảo sát nghiên cứu đánh giá những tác động của tình trạng sạt lở. Nhưng để xây dựng các công trình chống lở phải cần có kinh phí rất lớn; để xây dựng mỗi km bờ kè theo mức chung cần đến 90 tỉ đồng. Hiện nhóm kỹ sư của Sở đang có giải pháp “sống chung với sóng” được gọi là “giải pháp mềm” chỉ tốn khoảng 20% kinh phí so với mức đầu tư chung đang chờ tỉnh thông qua. Hy vọng sẽ sớm được triển khai.

Tiến Trình

TNO

 

More...

Bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn nghĩ về cách tân thơ lục bát

By duong duc

Nói với cô bé ngồi quán

  
                         Tặng các bạn hội quán: Đán Lâm Danh

Vào đây ghế quạnh khuya người 
Quán như địa phủ nhạc đời nhân gian 
Quầy trơ mắt bé ngỡ ngàng 
Thuyền ai đổ bến lòng nàng bâng khuâng

 

Hồn ta trải gió đầy sân 
Tình ta mây cũng mấy lần thu nao 
Vào đây bàn nhẵn câu chào 
Quen như thân thể lạ nào chén ly

Đời nhau khói thuốc quên đi 
Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân 
Trên kia dáng bé tần ngần 
Lời yêu chậm nói tình gần tay trao

 

Vào đây đèn đủ hanh hao 
Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui 
Cúi đời trên chén ly khuya 
Mắt nhau một hướng tình chia mấy trùng

 

Ngồi thầm góc quán mông lung 
Xa nghe lời kẻ gần chùng dáng ai 
Vào đây nhạc đĩa đầy vai 
Vòng quay nhịp lặp kim mài giọng quen

Mòn hao sợi tóc trăm năm 
Khuya mưng máu chậm. Tình bầm tim mau 
Ngậm lòng quán vắng ơn nhau 
Ly trơ ghế nóng bé chau mắt nhìn

 

Vào đây như một đức tin 
Khói tan đốm thuốc đời vin tay nào 
Miệng cười kín nụ lao đao 
Tình chia nghĩa sớt câu chào riêng ai

Trách gì ý lỡ lời sai 
Cho nhau góc quán đêm dài dung thân 
Thôi em trả đó tình gần 
Ta xin bóng chiếc đời cần nhau đâu ?

Vào đây ghế quạnh khuya nhàu 
Tình như cổ tích đời sau kể thầm.

 

alt

Bài thơ là một chứng minh về sự không ngừng tìm tòi sáng tạo của người thơ đặc biệt nhà thơ trẻ trong việc canh tân giòng thơ lục bát không phải hôm nay mà hôm qua không phải bây giờ mà cách đây gần 50 năm.

Sự canh tân cho thơ là một việc làm chung. Không phải cái ngôi vị được dành riêng cho một cá nhân nào.

Riêng cá nhân chúng tôi qua những tháng miệt mài sưu tập với cả ngàn bài lục bát với hơn 600 trang đánh máy để cân nhắc từng giòng từng chữ và với những niềm vui vô tận trên những trang thơ ngỡ chừng đã mất có nhận định rằng bài thơ trên là một trong số bài lục bát mới diệu kỳ nhất lạ nhất của một thời và chưa chắc mọi thời.

Thứ nhất là loại thơ tân hình thức. Nó là một bài thơ có nhiều dấu chấm phết ngắt câu nhiều nhất.

Trước năm 1975 một số tác giả đã cố mang hình thức mới cho khổ thơ 6-8 bằng những dấu ngắt một cách chủ ý.

Những dấu ngắt đoạn này có tác dụng khiến người đọc thơ ngừng hay tiếp tục đọc. Trên hành trình thưởng ngọan người đọc như chiếc xe. Một ụ mô: Xe dừng lại. Đường thẳng băng xe cũng nổ máy reo vui. Không cần biết nơi nào bắt đầu hay nơi nào là điểm cuối. Tác giả đã sắp sẵn trên lộ trình rồi.

Ví dụ:

Tháng dư. Buốt nẻ đôi đằng 
Nửa chì mưa đục nửa băng đá cồn

(Ngoại ô Cung Trầm Tưởng)

Một dấu chấm làm ngăn nhịp 2 và nhịp 4 của câu đầu. Và sau chữ đằng không có dấu chấm.

Tại sao.

Tôi nghĩ là tác giả có chủ ý. Có thể ông không cần dùng dấu chấm (.). Nhưng mà khi đọc lên ý thơ sẽ hoàn toàn đổi khác:

Hay qua hai câu sau của Du Tử Lê với (….) và dấu hỏi ?

(người từ thế giới bên kia) 
thấy tôi không ? đã hồn khuya tượng què

(Du Tử Lê- bài lục bát sau tám năm cho người về) 

Hay dấu chấm trong một đọan thơ của Đoàn văn Khánh:

Hai tấm ngắn. Bốn tấm dài 
Lầm lì tôi đóng quan tài cho tôi

(Đoàn văn Khánh – Hóa Kiếp tôi)

Tuy nhiên trong 227 nhà thơ được tôi tìm tòi sưu tập ấy chỉ có vài tác giả có thơ với dấu chấm phết hiện diện như một chủ ý qua một vài ba câu thưa thớt chứ không hầu như toàn bộ như bài thơ của Thành Tôn mà chúng tôi vừa giới thiệu.

Với toàn bài 34 câu có đến 27 câu có dấu chấm hoặc phết ngắt câu. Kỹ thuật này dĩ nhiên đòi hỏi nhà thơ có một nội lực thâm hậu.

Thứ hai: Mang kỹ thuật Đường Thi vào áp dụng trong lục bát:

Mang câu 8 chẻ làm đôi và tạo nên con đường rầy song song chữ đối chữ… đó là một nét đặc trưng của thơ lục bát Cung Trầm Tưởng. Một số nhà phê bình đã ca ngợi ông như là nhà thơ có công trong việc canh tân thơ lục bát. Ví dụ:

 

Ngày lăn bóng quá lưng đèo 
cây hoen lá thắm xóm nghèo quán không 
cồn trơ biếc núi ngồi trông 
sương giăng xóm ngủ mù buông lũng chiều

thuyền nằm bến cũng xiêu xiêu 
con sông tới giấc mắc triều lên nhanh 
hồn tôi cái đĩa thâu thanh 
tròn nguyên nét nhạc trung thành ý ca

(Chiều – Cung Trầm Tưởng)

Trong bài thơ của Thành Tôn chúng ta thấy tác giả đã xữ dụng rất nhiều về kỹ thuật đối chữ này.

Ví dụ:

Quán như địa phủ nhạc đời nhân gian 
….

Quen như thân thể lạ nào chén ly 
….

Mắt nhau một hướng tình chia mấy trùng 
….

Xa nghe lời kẻ gần chùng dáng ai 

Vòng quay nhịp lặp kim mài giọng quen 
….

Khuya mưng máu chậm. Tình bầm tim mau 
…..

Đặc biệt câu cuối chúng ta thấy ngoài việc đối chữ tác giả còn đối cả dấu chấm phết.

Không còn chia câu 8 thành hai mà thành bốn !

Chúng tôi cố gắng tìm kỹ thuật này trong suốt 227 nhà thơ miền Nam mà chúng tôi sưu tập nhưng không thấy.

 

Thư ba: Dùng chữ nghĩa rất ấn tượng

Chúng ta đã từng biết nhà thơ Viên Linh được nổi tiếng nhờ những vần lục bát rất ấn tượng của ông.

mối sầu mai phục thân tôi 
đi chưa nửa cuộc bỗng rời tứ chi 
nghe trong máu chảy rầm rì 
xương vi vu rỗng lọt thì truy hoan

(Viên Linh: Về thăm nhà ở Chí Hòa)

Thì với thơ Thành Tôn ngay hai câu đầu đã gây nên một ấn tượng rất đậm:

Vào đây  ghế quạnh  khuya người 
Quán như địa phủ  nhạc đời nhân gian 
….

Vào đây nhạc đĩa đầy vai 

Dùng chữ vai để tả về một bộ phận trong máy hát thời xưa chuyên vận hành những dĩa hát thì quả không còn sự ví von so sánh nào bằng !

Hay dùng chữ sân để ví với lòng mình:

Hồn ta trải gió đầy sân 
Tình ta mây cũng mấy lần thu nao

 

Thứ tư: Biến những chữ vô sinh thành ra những từ rất sinh động.

Ví dụ hai chữ "thu nao" nếu không có Tình ta mây cũng mấy lần thu nao  thì chắc không có một ý nghĩa gì hết. Hay nếu dùng thì có vẻ cải lương.

Trái lại “thu nao” trong câu thơ là một lối sử dụng chữ rất tài hoa. Đọc lên êm tai. Đọc lại đọc lại đọc lại thấy càng thấm. Và lòng chùng xuống mùa thu… mây.. mây mùa thu thì bàng bạc lòng ta cũng bàng bạc vậy thôi….

Ngay cả hai chữ "Thắp Tình" nhan đề tập thơ mà ông đã bỏ công sức cố học nghề thợ sắp chữ – để tự tay hoàn thành tác phẩm của mình vào năm 1969 thì cũng đã "lạ lùng" rồi.

Rõ ràng thơ Thành Tôn đã vượt thời gian và không gian đi rất xa thời của ông và là một kiện tướng trong việc canh tân thơ lục bát.

...

Mồng 4 Tết 2010

T.H.T.

 

More...

Trịnh Công Sơn: Nhiều năm không hết lạ

By duong duc

 Ca từ là một đề tài gần như không cạn khi nói tới các bài hát của Trịnh Công Sơn. Từ thành phố Đà Lạt nơi gắn bó với một thời tuổi trẻ của nhạc sĩ họ Trịnh một bạn đọc đã có những phát hiện mới thú vị về điều tưởng như không còn mới này. Nhân 10 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn  TT&VH Cuối tuầnxin trân trọng giới thiệu bài viết này.

Trên chặng đường phát triển ngôn ngữ tiếng Việt Trịnh Công Sơn như một nhà phù thủy của ngôn từ ông khoác vào ngôn ngữ mẹ đẻ một quầng ảo vọng siêu thực mà theo tôi có lẽ nhiều năm sau cũng khó có người Việt nào đạt đến trình độ điêu luyện ấy. Những sự vật tầm thường nhưng khi được “chiếc đũa thần” của Trịnh gõ vào thì lập tức biến thành lạ thường. “Nắng” thì ai chả thấy nhưng chỉ có Trịnh Công Sơn mới thấyNắng thủy tinh. “Mưa” đương nhiên ai chả biết nhưng Mưa hồng thì chỉ chàng trai họ Trịnh mới hay! Hạ là hè. Mùa hạ tức mùa hè. Điều đó có gì lạ! Lạ chăng là bởi sau chữ Hạ Trịnh Công Sơn thêm chữ Trắng đầy diễm tuyệt trong ca khúc Hạ trắng. “Mắt xanh xao” có lẽ đối với các nhà bệnh lý học thì đấy là triệu chứng của một bệnh nào đấy nhưng đối với Trịnh thì “mắt xanh xao” lại là điểm nhấn cho một hình ảnh liêu trai đài các: “Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao” (Diễm xưa).

 

alt

 

Ở đây tôi mạo muội làm cái việc “động trời” là đụng đến Nguyễn Du - một bậc thầy về ngôn ngữ. Không có ý so sánh tôi chỉ muốn bàn về nghệ thuật sử dụng ngôn từ giữa hai con người tài danh này mà thôi. Ở Nguyễn Du tiếng Việt chỉ đẹp bởi sự chính xác mang tính triết lý cao và xem ra cái “mỹ” ở đây chỉ là cái “mỹ” của hiện thực. Còn cái “đẹp” của Trịnh Công Sơn lại là cái đẹp bảng lảng sương khói của siêu thực ấn tượng bởi vì ông có khả năng tạo nên độ bóng của ngôn từ. Sự vật nào được Trịnh Công Sơn đụng đến cũng bớt thật đi và được khoác lên một thứ ánh sáng mới đủ sức bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng.

Khác với Nguyễn Du tạo nên nàng Kiều - một giai nhân toàn bích - nhưng cái đẹp toàn bích không làm Trịnh Công Sơn rung động giữa cái toàn bích ông chấm một nét hỏng và chính nét hỏng đó làm say lòng người:Gió sẽ mừng vì tóc em bay/Cho mây hờn ngủ quên trên vai/Vai em gầy guộc nhỏ/Như cánh vạc về chốn xa xôi (Như cánh vạc bay).

Cụ Nguyễn Tiên Điền có lúc phải thốt lên một câu: “Yêu nhau lại hóa bằng mười phụ nhau”. Trịnh Công Sơn thì sao? Chẳng sao cả! Ông bình thản trước mọi tráo trở của cuộc đời. Ông tuyên bố: “Yêu em yêu thêm tình phụ/Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”. Đây là lời chú mở lối thiên thai là tình yêu cứu rỗi chung cùng vượt qua ranh giới thiện ác vị kỷ của con người.

Cái đẹp và cái buồn của Trịnh Công Sơn có cái gì đó khác người. Như một nhà hiền triết phương Đông ông nhận ra cái tất yếu của cô đơn cái hào hoa của thất bại cái quyến rũ của triền dốc cái ma lực của chén đắng. Do đó bóng dáng cổ tích không hề xuất hiện trong các ca khúc của Trịnh tình yêu cũng siêu hình nỗi đau cũng siêu hình tức là ít nhiều và tình yêu trở thành ý niệm.

Hình như máu lửa quê hương và sự ám ảnh về cái chết đã làm cuộc hôn phối cho một thế giới vừa hư vừa thực trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn. Ông nhìn thấy cái “tan” ngay khi cái “hợp” đang thành tựu cái biến dịch ngay trong cái khởi nguyên. “Ngày nào vừa đến đã xa muôn trùng”(Rồi như đá ngây ngô)  “Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng” (Như cánh vạc bay) hay “Có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau” (Bay đi lặng thầm)  “Trong Xuân thì thấy bóng trăm năm” (Gần như niềm tuyệt vọng) “Đã có nghìn trùng trên môi người tình/Đã dấu nụ tàn bên trong nụ hồng/Có chớm lạnh lùng trên môi nồng nàn/Có thoáng gập ghềnh trên con đường mòn” (Như một vết thương)... Dưới con mắt ông thần chết không đáng sợ như ta tưởng mà thần chết cũng có cái gì đó rất duyên (!). Ông từng tâm sự: “Cuối cùng không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tràn đầy sự có mặt và chết cho tràn ngập cõi hư không. Phải đi đến tận cùng của hai cõi sống chết để làm tan biến những giấc mộng đời không thực”. Bởi mọi sự vật đều thường biến biến thiên theo những chu kỳ nhất định không có cái gì trường cửu kể cả tình yêu. Vì vậy ngheông chúng ta thường bắt gặp một cái nhìn đầy ưu tư về thân phận.

Có lẽ Trịnh Công Sơn là “ma” trong chốn riêng của mình. Chưa bao giờ ngôn ngữ mẹ đẻ lại có một bộ mặt liêu trai lạ lẫm đến như vậy: “Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa” (Diễm xưa)  “Vòng tay quen hơi băng giá”(Nghe những tàn phai)  “Tay rong rêu muộn màng” (Ru ta ngậm ngùi) “Ngủ đi em tay xanh ngà ngọc” (Em hãy ngủ đi)  “Bàn tay xanh xao đón ưu phiền” (Nắng thủy tinh)...

Hãy trở lại với cụ Nguyễn Du và xem cụ Nguyễn tả cảnh. Tôi xin trích ra đây hai câu thơ trong Kiều: “Cỏ non xanh rợn chân trời/Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” - một vẻ đẹp toàn bích của hội họa tả thực. Còn Trịnh Công Sơn: “Ôi áo xưa lồng lồng đã xô dạt trời chiều” (Tình nhớ)  “Nghe tháng ngày chết trong thu vàng” (Nhìn những mùa Thu đi) thì lại là đỉnh cao của ấn tượng siêu thực.

Nhóm tâm trạng của Nguyễn Du: “Từ nay góc bể chân trời/Nắng mưa thui thủi quê người một thân”. Trọng âm nằm ở chữ “một” âm trắc chữ “thân” âm bằng theo sau tạo thành âm hưởng buồn như một cái kết tối đen của sự cô quạnh. Câu thơ đạt đến sự chuẩn mực của nền văn học cổ điển. Cũng là một thân cũng là sự cô đơn vô tận của kiếp người trong cõi trần ai nhưng Trịnh Công Sơn lại dùng chữ “với” cực hay. “Đời như vô tận/Một mình tôi về/Một mình tôi về với tôi” (Lặng lẽ nơi này).

Dưới đôi cánh thi ca thiên tài của mình Trịnh Công Sơn một lần nữa đưa ngôn ngữ mẹ đẻ vỗ cánh bay lên. Ông khái quát hóa sự vật thành biểu tượng khi chúng ta nghĩ ngợi đến cùng đích cộng với sự thăng hoa tình cảm thì lại gặp ông. Ngôn ngữ của ông có sức len lỏi vào tận cùng người nghe đánh thức trong họ sự bừng tỉnh cộng hưởng và run rẩy không thôi. Và ở một góc độ nào đó Trịnh Công Sơn không chỉ dừng lại ở nhà phù thủy của ngôn từ mà còn là nhà sáng tạo ngôn ngữ.

Trịnh Chu 

(TT&VH Cuối tuần) 

More...

Như đường chân trời

By duong duc

10 năm nhớ Trịnh Công Sơn (1-4-2001 - 1-4-2011)

 

 Nhân kỷ niệm mười năm ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ trần hai nhà văn Nguyễn Quang Thiều và Bảo Ninh đã gửi bài viết mới của hai ông để in trong tập sách Trịnh Công Sơn - tôi là ai là ai do NXB Trẻ ấn hành (*). TTCT giới thiệu cùng bạn đọc.

 

Như đường chân trời

TTCT - Cho đến năm 28 tuổi tôi mới được nghe nhạc Trịnh Công Sơn một cách chính thức. Đó là năm 1985. Nghĩa là mười năm sau khi cuộc chiến tranh kết thúc. Nhưng như thế lại tốt hơn nếu tôi nghe nhạc của ông ngay sau năm 1975 và khi tuổi còn quá trẻ.

 

alt
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong đêm hát và giao lưu với công nhân xây dựng Nhà máy thủy điện Trị An (do báo Tuổi Trẻ tổ chức vào tháng 4-1984 nhân kỷ niệm chín năm thành lập báo) - Ảnh tư liệu báoTuổi Trẻ

 

Một buổi tối trên tầng 18 của tòa nhà cư xá sinh viên Đại học Havana (Cuba) một lưu học sinh VN mang đến cho tôi một băng cassette và nói: “Sơn ca 7. Nghe chưa?”. Và đêm đó tôi đã nghe đi nghe lại băng nhạc cho tới gần sáng.

Tại sao tôi lại nghe nhạc Trịnh Công Sơn muộn thế? Rất nhiều lý do. Nhưng bây giờ tôi cũng không cần nói lại những lý do đó nữa. Chỉ biết tôi đã nghe hầu hết ca khúc của Trịnh Công Sơn và tôi chọn ông là nhạc sĩ VN lớn nhất của tôi.

Có những nhạc sĩ VN tôi đã nghe ca khúc của họ trong những giai đoạn khác nhau của tuổi đời mình. Nhưng cho đến bây giờ khi đã 50 tuổi tôi thấy có lẽ không cần phải nghe lại nữa. Nhưng với Trịnh Công Sơn tôi phải thừa nhận rằng tôi có nhu cầu nghe ông có lẽ hết đời.

Điều gì đã làm những bài hát của ông sống mãi trong tôi? Tính phản chiến chăng? Không. Yếu tố này đối với tôi chỉ để biết một lần chứ không đóng vai trò gì tạo nên thế giới âm nhạc của ông cả. Ca từ đầy chất thơ chăng? Cũng không. Tôi đặt câu hỏi vậy vì lâu nay người ta hay nói và viết về ca từ trong các ca khúc của ông. Nhưng vì sao ca từ đầy chất thơ của ông như người ta nhận xét lại không phải là điều quyến rũ tôi? Vì đơn giản tôi là một nhà thơ bởi thế ca từ của ông rất đẹp nhưng chỉ vậy thôi thì chưa đủ quyền lực đối với tôi. Vậy là cái gì? Đó chính là giai điệu.

Âm nhạc là giai điệu. Không gì khác có thể tạo nên quyền lực của một tác phẩm âm nhạc. Tôi không còn cách gọi nào khác đối với Trịnh Công Sơn ngoài danh từ thiên tài. Ông đã tạo nên những giai điệu kỳ diệu. Tất nhiên dù không coi ca từ của Trịnh Công Sơn là một quyền lực thì tôi vẫn phải nói rằng ca từ của ông đã thuộc về những giai điệu kỳ diệu ấy. Nó tôn vinh giai điệu.

Giai điệu ấy đã lan tỏa và đánh thức những miền thẳm sâu trong tâm hồn con người. Tôi đã nghe những ca khúc của ông biết bao lần trong hơn 20 năm qua. Nhưng cho tới bây giờ tôi cũng không thuộc trọn vẹn bất cứ ca khúc nào của ông. Tôi không để ý đến việc nhập tâm ca từ của những bài hát đó. Tôi nghe ông trong một trạng thái giống như người ta nghe thấy những tiếng gì đó trong giấc mơ.

Âm nhạc của ông đã dựng lên những vẻ đẹp và nỗi buồn của kiếp người. Âm nhạc của ông đẩy người nghe đi xa mãi xa mãi trong thế giới nội tâm của chính họ. Đối với những ca khúc của nhiều nhạc sĩ danh tiếng VN tôi luôn hình dung được nơi chốn dừng lại của cảm xúc. Nhưng ca khúc của Trịnh Công Sơn mở cảm xúc ra bất tận với nhiều vẻ đẹp lạ lùng. Và cuối cùng tôi phát hiện cho riêng tôi là: âm nhạc Trịnh Công Sơn giống như đường chân trời. Chúng ta nhìn thấy đấy nhưng không khu hạn được.

Khoảng mươi năm trở lại đây tôi không còn nghe nhạc Trịnh Công Sơn như trước kia nữa. Nghĩa là tôi không ngồi xuống mở máy nghe nhạc đặt một CD vào và nghe. Bây giờ tôi nghe ông bằng ký ức và cảm xúc của mình. Tôi tràn ngập những giai điệu của ông khi ngồi một mình ở một chốn xa xôi khi đi qua một buổi chiều khi nhìn một cơn mưa ngoài cửa sổ khi ly biệt một ai đó khi bay trong một vùng trời khi men theo một hè phố lát gạch khi nhìn thấy tháp chuông một thánh đường khi uống cà phê trong im lặng với một người bạn...

Đấy chính là ma lực và sự kỳ diệu trong những giai điệu của ca khúc Trịnh Công Sơn. Tôi đã rất cẩn trọng theo dõi những biến động trong tâm hồn mình khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn ở những khoảnh khắc đó. Để cuối cùng tôi tự tin đặt bút viết rằng: ông là người được chọn lựa để dựng lên thế giới tâm hồn người Việt trong âm nhạc hiện đại.

NGUYỄN QUANG THIỀU

Xem thêm http://123.30.128.11/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-hoa-nghe-thuat/430743/Nhu-duong-chan-troi.html

More...